ỐC ĐÁ - NGUYÊN LIỆU LÀM MÓN ĂN ĐÊM HẤP DẪN 1

ỐC ĐÁ – NGUYÊN LIỆU LÀM MÓN ĂN ĐÊM HẤP DẪN

5/5 - (2 votes)

Ốc đá (hay còn gọi là ốc vặn, ốc mít, ốc vít, ốc thuốc) là một loài ốc nước ngọt thân mềm sinh sống dưới nước, thở bằng mang, đẻ con và là loài ốc sống trong các khe suối trên núi cao, trong hang núi đá.

Tên gọi “ốc cửa sập” ám chỉ đến nắp, một mảng sừng hình bầu dục mà hầu hết các loài ốc trong nhánh này đều có. Khi các phần mềm của ốc đá được thụt vào hoàn toàn, nắp sẽ bịt kín lỗ hở của vỏ, bảo vệ chúng khỏi bị khô và bị săn mồi. Những loài ốc này là loài ăn tạp, tiêu thụ mùn bã hữu cơ, tảo cát và phù du. Ốc đá ăn không chọn lọc các chất hữu cơ và vô cơ ở đáy cũng như tảo đáy và tảo biểu sinh, chủ yếu bằng cách cào, nhưng tảo cát có lẽ là thức ăn bổ dưỡng nhất mà nó ăn.

Bạn có biết món ốc luộc là chính từ loài động vật nhỏ bé này, đây là món ăn chơi được rất nhiều người yêu thích, đặc biệt là chị em phụ nữ. Vào những ngày trời mát mẻ hay những ngày mùa đông, cùng gia đình hoặc bạn bè quây quần bên nồi ốc luộc nóng hổi, giòn ngon, thơm phức nhâm nhi với nước chấm chua cay mặn ngọt thì còn gì hấp dẫn bằng.

PHÂN LOẠI KHOA HỌC

  • Danh pháp khoa học: Bellamya Chinensis
  • Họ: Viviparidae
  • Chi: Cipangopaludina
  • Phân chi: Bellamya

Ốc đá Châu Á bao gồm loài ốc đá Nhật Bản và ốc đá Trung Quốc, đều có họ hàng gần. Tuy nhiên, phân loại của các quần thể ốc đá Châu Á du nhập còn nhiều khó hiểu và có nhiều tên khoa học được sử dụng. Trong các tài liệu cũ, tên chi Cipangopaludina thường được sử dụng cho cả hai loài. Cipangopaludina là một phân chi của Bellamya. Các tài liệu hiện tại ưu tiên sử dụng tên Bellamya.

Ốc đá có hình dáng tương tự như ốc bươu, ốc nhồi, nhưng phần đuôi tròn, thân màu vàng nhạt, vỏ cứng màu đen. Ốc có chiều dài khoảng từ 3 – 7 cm, nhiều loại ốc chỉ lớn hơn đầu đũa một tí và có màu đen trũi, mình dài, óng ánh trong nắng nhưng cũng có những loài ốc to bằng chén uống nước, thân dẹt, màu trắng sữa hay đen trũi. Một số con ốc đá có hình dáng khá giống ốc núi Bà Đen ở Tây Ninh, chúng không phát triển theo chiều dọc như ốc nhồi, ốc bươu mà nó phát triển theo chiều ngang, mình dẹp, to trung bình bằng hai đốt ngón tay, miệng loe ra có màu trắng sữa và một số loại ốc khác thì mỏng vỏ, dày ruột, có hương thuốc quý do ăn các loại lá cây, quả và thảo dược trong rừng. Thịt ốc đá trắng, mềm ngọt hơn ốc bươu, có vị ngọt, giòn, béo, thơm.

ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG

Ốc đá là loài ốc nước ngọt, to bằng quả bóng golf, có nắp. Loài ốc này thường có màu sáng khi còn nhỏ, sau đó chuyển sang màu nâu xanh lục, nâu hoặc nâu đỏ khi trưởng thành.

Ốc đá là một loài ốc nước ngọt lớn, có thể đạt chiều dài vỏ lên tới 70 mm (đo từ đỉnh đến điểm uốn cong đáy của lỗ) và khối lượng mô khô khoảng 1 g. Loài ốc này có hình thái khỏe mạnh với tỷ lệ chiều rộng/chiều cao là 0,74-0,82. Vỏ hình cầu, có 6 đến 7 vòng xoắn lồi và có đường nối rõ ràng.

Ốc đá có lớp vỏ ngoài dày và nắp cứng hoặc cửa sập che phủ lỗ mở vỏ (lỗ) giúp bảo vệ tối đa khỏi động vật ăn thịt và các điều kiện môi trường bất lợi.

Vỏ: Môi ngoài có màu đen; cửa bẫy; Vỏ hình cầu, có 6-7 vòng xoắn lồi và có đường nối rõ ràng. ốc đá có nắp mang đồng tâm, hay còn gọi là “cửa bẫy”, có thể đóng lại khi chất lượng nước không tốt. Cửa bẫy không xuất hiện sau khi chết. Bề mặt vỏ nhẵn với các đường sinh trưởng rõ ràng. Vỏ hình nón, mỏng và gồm 6 hoặc 7 vòng xoắn.  ​Các vòng xoắn được đánh dấu bằng các đường sinh trưởng ngang.

Vỏ hình nón và mỏng nhưng rắn chắc, có đỉnh nhọn và chóp tương đối cao hơn cùng vòng xoáy cơ thể xa. Loài này có rốn nhỏ và tròn và chóp được tạo thành ở góc 65–80°.

Ở ốc con, vòng xoắn cuối cùng của vỏ có gờ sụn rõ rệt (carina) và vỏ có các rãnh với khoảng 20 đường vân/mm giữa mỗi rãnh. Cá con cũng có hoa văn chi tiết trên màng xương bao gồm 2 hàng lông ở đỉnh và 3 hàng lông ở thân với các móc dài ở hai đầu, các gờ rõ rệt và nhiều lông khác có móc ngắn.

Vỏ của ốc đá phát triển theo phương pháp dị hình (chiều cao tăng nhanh hơn chiều rộng) và phát triển với tốc độ chậm, do đó vỏ trưởng thành ít dài hơn so với vỏ của loài cùng loại.

Nắp: Ở nước ngoài chúng được gọi là “ốc cửa sập” vì có nắp. Nắp hoạt động như một cái nắp đậy kín vỏ ốc khi con vật thụt vào. Nắp giúp bảo vệ ốc khỏi bị khô và khỏi bị săn mồi. Nhờ có nắp, chúng cũng có thể sống sót ngoài nước tới 4 tuần. Miệng có hình bầu dục với một môi ngoài và môi trong đơn giản

Màu sắc: Ốc đá trưởng thành có vỏ màu xanh ô liu, nâu xanh, nâu hoặc nâu đỏ. Khi còn non, chúng có màu nhạt nhưng khi trưởng thành, chúng có màu xanh ô liu, nâu xanh lục hoặc nâu đỏ. Vỏ bên trong có màu trắng đến xanh nhạt. Khi còn nhỏ, chúng có màu nhạt, sau đó sẫm dần thành xanh ô liu, nâu lục, nâu hoặc nâu đỏ khi trưởng thành. Màu bên trong là trắng đến xanh nhạt và môi có màu đen.

Kích thước: Dài 3cm-7cm. Ốc đá thường có chiều cao vỏ là 4cm và chiều rộng vỏ là 3cm, loài lớn nhất có chiều cao là 6cm và chiều rộng là 4cm.

Tuổi thọ: Nhìn chung, con cái sống đến 5 tuổi và con đực sống đến 3-4 tuổi.

Ống hút:c đá không có ống hút. Giống như tất cả các loài ốc sống dưới nước, chúng chỉ có một bộ xúc tu.

ỐC ĐÁ - NGUYÊN LIỆU LÀM MÓN ĂN ĐÊM HẤP DẪN 2

MÔI TRƯỜNG SỐNG

Ốc đá thường được tìm thấy ở các vùng đất cát hoặc bùn của hồ, ao, sông chảy chậm. Chúng cũng thích những vùng nước có thảm thực vật rậm rạp.

Ốc đá xuất hiện trong các hệ thống sông ngòi lớn hoặc hệ thống sông ngòi chảy chậm với đáy mềm, lầy lội hoặc bùn. Các vùng nước ngọt thích hợp bao gồm sông, suối, ao, hồ, ruộng lúa, mương ven đường và kênh tưới tiêu. Ốc trưởng thành thường được tìm thấy trên bề mặt hoặc chôn một phần dưới bùn hoặc bùn, trong khi cá con thường được tìm thấy trong các khe nứt hoặc dưới đá. Nhiệt độ nước tối ưu để nó phát triển và sinh trưởng là từ 20-28 °C. Nó sẽ hoạt động kém khi nhiệt độ nước thấp hơn 10 °C hoặc cao hơn 35 °C.
Loài này được tìm thấy ở độ sâu 0,2-3 m và nước có pH từ 6,5-8,4. Loài này có thể chịu được điều kiện nước tù đọng gần bể tự hoại. Một nghiên cứu gần đây cũng cho thấy ốc đá có khả năng chịu khô hạn rất tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển trên bộ bằng thuyền.

PHÂN BỐ

Loài này thích các hồ nước ngọt có đáy mềm, bùn hoặc nhiều bùn,  hồ chứa, sông nước ngọt chảy chậm, suối, ruộng lúa và ao có cỏ thủy sinh, bò dưới đáy nước hoặc trên cỏ thủy sinh. Nó thích các vùng nước trong suốt có nền bùn, cát, mặc dù nó cũng có thể sống sót ở các vùng suối chảy chậm hơn.

Tại Việt Nam, ốc sống tập trung ở các huyện ở vùng núi Trà Bồng (Quảng Ngãi) và Trà My (Quảng Nam). Vành đai vườn quốc gia Cúc Phương chạy dọc các xã Thành Lâm, Thành Yên, Thành Mỹ, Thạch Lâm của huyện Thạch Thành là có nhiều ốc đá nhất. Ốc đá ở Suối Bàng thường chỉ xuất hiện từ tháng 4 đến cuối tháng 8, tức là vào mùa mưa, khi thời tiết ẩm ướt. Những tháng còn lại chúng vùi mình trong những lớp lá dày hoặc nằm im dưới đất, chỉ những ngày mưa ốc mới xuất hiện. Tại vùng Thanh Hóa, sau khi cơn mưa rừng trút xuống, nước tràn khe suối, những con ốc ẩn mình cả năm chui lên khỏi mặt đất, trời mưa rất dễ bắt ốc, trời mát, ốc bò ra nhiều, nếu mưa sớm vào buổi chiều, hôm sau lá bị khô, ốc không chui ra ngoài. Hết mùa mưa, ốc sẽ chui sâu xuống đất, rất khó tìm.

BẢN ĐỊA

Mặc dù có nguồn gốc từ Đông Á, từ vùng nhiệt đới Đông Dương đến miền bắc Trung Quốc, loài này đã xuất hiện ở Bắc Mỹ.

Phạm vi bản địa là từ Đông Nam Á đến Nhật Bản và miền đông nước Nga.

PHÂN BỐ KHÔNG BẢN ĐỊA

Ốc đá có thể đã được vận chuyển đến Hoa Kỳ như một vật bám thụ động trên cây sen cảnh. Những người chèo thuyền giải trí có thể vận chuyển loài ốc này đến những địa điểm mới vì nó bám vào các loài thực vật lớn thường xâm nhập vào vỏ thuyền. ốc đá có thể sống sót trong thời gian dài khi tiếp xúc với không khí, khiến việc vận chuyển giữa các hồ trên các phương tiện trên cạn như thuyền kéo có khả năng xảy ra. Thật vậy, một cuộc khảo sát ở 21 hồ cho thấy loài ốc này có nhiều khả năng xuất hiện ở các địa điểm gần nơi hạ thủy thuyền. Việc thả có chủ đích khỏi bể cá là một phương tiện tiềm ẩn lây lan ốc đá, loài ốc này chỉ được bán ở 10% các cửa hàng cá cảnh được khảo sát ở khu vực Ngũ Đại Hồ.
Loài này được bán ở các chợ thực phẩm Trung Quốc tại San Francisco vào cuối những năm 1800. Nó được thu thập sớm nhất là vào năm 1914 tại Boston. Nó có thể được thả từ một bể cá vào Sông Niagara trong khoảng thời gian từ năm 1931 đến năm 1942.

Người ta vẫn chưa rõ ốc đá du nhập vào bằng cách nào, nhưng có thể là do thả từ bể cá hoặc từ ốc đá nhập khẩu làm thực phẩm.

TẬP TÍNH SINH TRƯỞNG

Chúng thường bám dưới những hốc đá nằm sâu trong vũng nước, khe suối và chậm chạp bám vào những tảng đá ven bờ suối để ăn rong rêu. Sau các đợt lũ, chúng không chỉ bám dưới hốc đá, ốc nhiều nhất ở dưới lớp rêu nước.

Chớm hè là thời kỳ ốc đá chuẩn bị sinh sản. Bình thường, ốc đá sinh sống ở các khe, suối, nơi có dòng nước trong xanh, không bị ô nhiễm và có nhiều đá. Ban ngày ốc chui xuống phía dưới các tảng đá, dưới cát hay dưới các lớp lá cây bị mắc lại tại các hốc đá. Ban đêm ốc bò ra, bám thành từng bầy trên những phiến đá, đen tuyền, hiện rõ dưới dòng nước của các con suối, khe nước.

THỨC ĂN

Ốc đá là loài ăn lọc và ăn mùn bã hữu cơ, nhưng cũng ăn tảo nhỏ. Dựa trên việc kiểm tra ruột, loài này ăn các mảnh vụn vô cơ-hữu cơ và tảo biểu sinh đáy không chọn lọc, chủ yếu là tảo cát.

Ốc đá ăn không chọn lọc các vật liệu đáy hữu cơ và vô cơ cũng như tảo đáy và tảo biểu sinh bằng cách cào. Loài ốc này chủ yếu ăn tảo trong môi trường bể cá. Chúng rất phổ biến trong bể cá nước ngọt vì chúng không ăn trứng cá hay thực vật, không sinh sôi quá mức trong bể và sẽ khép lại nếu nước có vấn đề, báo hiệu cho người nuôi biết có điều gì đó không ổn vài tuần trước khi cá chết.

VÒNG ĐỜI

Tất cả các giai đoạn phát triển (từ trứng mới thụ tinh đến con non dài 5 mm đã có vỏ hoàn chỉnh) đều được tìm thấy đồng thời trong túi tử cung của con cái. Những thay đổi trong môi trường, bao gồm cả việc tiếp xúc với động vật ăn thịt, có thể được phản ánh qua những thay đổi về sinh hóa, sinh lý và hình thái ở con non đang phát triển. Ví dụ, khi có sự hiện diện của tôm càng xanh, con cái sinh ra nhiều con non nhỏ hơn với hàm lượng hữu cơ trong vỏ cao hơn.
Con non được sinh ra đã sống và phát triển hoàn chỉnh, phát triển theo phương pháp dị hợp (chiều cao vỏ tăng nhanh hơn chiều rộng). Tuổi thọ trung bình từ 4-5 năm và có khả năng qua đông trong điều kiện lạnh giá. Con cái sống tới 5 năm, trong khi con đực sống tới 3, đôi khi là 4 năm.

SINH SẢN

Là loài hữu tính, ốc đá sinh ra những con ốc sên sống và phát triển đầy đủ. Trong suốt cuộc đời, con cái có thể sinh ra hơn 169 con non, có thể đạt tới 102 con cho bất kỳ lứa nào. Trung bình mỗi năm có 65 con non sống sót. Con cái có thể mang thai từ tháng 5 đến tháng 8 và sinh con từ tháng 6 đến tháng 10.

 Tất cả con cái thường chứa phôi từ tháng 5 đến tháng 8 và con non được sinh ra từ tháng 6 đến tháng 10 trong vùng nước nông, sau đó con cái bắt đầu di cư đến vùng nước sâu hơn để trú đông vào mùa thu. Con cái sinh nhiều con non hơn vào năm thứ 4 và thứ 5 so với những năm khác.

Ốc đá là loài đẻ con, sinh ra những con non đã phát triển hoàn chỉnh. Con cái liên tục đẻ ra một số lượng nhỏ con non, được báo cáo là sinh ra khoảng 65 con non sống mỗi năm. Ốc đá đực có thể được nhận biết bằng sự hiện diện của một xúc tu bên phải biến đổi, hoạt động như một dương vật. phát hiện ra rằng khi có động vật săn mồi là tôm càng xanh, ốc đá có thể biểu hiện phản ứng phòng vệ do động vật săn mồi gây ra.

ỐC ĐÁ CHẾ BIẾN LÀM THỨC ĂN

Ốc đá có nhiều thành phần dinh dưỡng quan trọng, ít chất béo, giàu protein và vitamin cùng với một số khoáng chất cần thiết cho cơ thể như magie, selen, vitamin E và phốt pho. Do đó, Ăn ốc đá có tốt không? Thì câu trả lời là có, bởi với những thành phần dinh dưỡng như trên, cung cấp nhiều dưỡng chất cần thiết cho cơ thể con người. Có thể chế biến ốc tươi bằng nhiều cách như ốc luộc, hấp, xào sả ớt, nướng muối,…

Ốc đá chế biến đơn giản, chỉ cần ngâm nước sạch cho nhả hết lá cây rồi luộc hoặc xào, làm nộm. Ngon nhất vẫn là ốc luộc vì giữ được hương thơm của vị thuốc. Ốc bắt về được ngâm với nước vo gạo khoảng sáu giờ để nhả hết chất bẩn. Chà rửa ốc thật sạch, chặt bỏ trôn (đuôi) ốc, rửa ốc một lần nữa, vớt ra rổ để ráo. Ốc đá om sả là món ăn ngon được nhiều người ưa thích ngoài luộc còn có thể chế biến thành nhiều món khác, không xào ốc vì khi xào ốc ra nhiều nhớt ăn không ngon, thường nấu canh, người ta có thể nạo xoài chua đem trộn với ốc và gia vị: mùi tàu, lá gừng, tía tô, chanh, ớt làm gỏi. Ốc đá còn được chế biến thành món ốc hút, mút.

Các huyện miền núi của Quảng Nam như Bắc Trà My, Nam Trà My, Tiên Phước, Tây Giang, Nam Giang… thường hay đãi khách phương xa nhiều món ngon đặc biệt, ốc đá là một trong những ẩm thực mang đậm nét đặc trưng của tộc người vùng cao ở Trường Sơn. Chúng là loại thức ăn đặc biệt, quen với người Mường, Thái. Dân bản địa còn gọi với tên khác là ốc thuốc vì chúng có nhiều công dụng trị một số chứng lạnh bụng, đau bụng, dị ứng và có giá trị dinh dưỡng cao. Phần đuôi ốc có giá trị nhất, vì chính là “túi thuốc” của con ốc.

Loài này là một trong ba loài ốc nước ngọt phổ biến được tìm thấy ở các chợ Trung Quốc. Loài ốc này được sử dụng rộng rãi như một phần trong chế độ ăn uống của con người ở hầu hết các nơi ở Trung Quốc vì thịt ốc được coi là ngon, giàu dinh dưỡng, có hàm lượng protein cao và hàm lượng chất béo thấp. Hơn nữa, ở Trung Quốc, nó cũng được sử dụng làm thuốc để điều trị bệnh tiêu hóa.

Vỏ của nó có nhiều ở các địa điểm khảo cổ học tại lưu vực Quan Trung (Tây Bắc Trung Quốc) từ thời kỳ đồ đá mới giữa đến cuối. Đây là những di tích còn lại của các bữa ăn thời tiền sử. Thịt được ăn chủ yếu như thực phẩm phụ.

Loài ốc này cũng là một trong những loài ốc đồng lúa được ăn theo truyền thống ở Thái Lan.

ỐC ĐÁ - NGUYÊN LIỆU LÀM MÓN ĂN ĐÊM HẤP DẪN 3

TÁC ĐỘNG ĐẾN TỰ NHIÊN

Ốc đá sinh sản nhanh chóng với mật độ cao, ảnh hưởng tiêu cực đến lưới thức ăn dưới nước. Chúng có thể cạnh tranh với loài ốc sên bản địa về thức ăn và nơi trú ẩn.
Chúng cũng có thể đóng vai trò là vật trung gian truyền ký sinh trùng và bệnh tật. Những loài ốc này cũng được biết đến với tác dụng làm giảm sinh khối tảo trong nguồn nước, làm thay đổi cấu trúc dinh dưỡng của cộng đồng sinh vật thủy sinh.

Ốc đá có thể ăn được và được bán tại các chợ thực phẩm Trung Quốc, ở Hoa Kỳ ốc đá cũng có thể hữu ích trong việc loại bỏ bùn thải và kim loại nặng trong đất ruộng lúa 

BỆNH TRUYỀN NHIỄM

Ốc đá đóng vai trò là vật chủ và trung gian truyền bệnh cho nhiều loại ký sinh trùng trong môi trường sống tự nhiên của nó, bao gồm:

Sức khỏe con người: Ốc đá cũng là vật chủ của một số loại ký sinh trùng giun sán gây bệnh cho người ở châu Á bản địa. Do đó, nó có thể là vật chủ trung gian truyền ký sinh trùng và bệnh tật, bao gồm cả sán lá  – loại ký sinh trùng này có thể lây nhiễm cho con người.

Ốc đá có thể là vật chủ của các loại ký sinh trùng lây nhiễm cho gia cầm. Nó cũng là vật chủ phổ biến của ấu trùng của động vật chân đốt.

ỐC ĐÁ - NGUYÊN LIỆU LÀM MÓN ĂN ĐÊM HẤP DẪN 4

ĐỘNG VẬT NGOẠI LAI

Quần thể ốc đá có thể đạt mật độ rất cao, lên đến 40 con/m². Mặc dù dự kiến ​​sẽ có những tác động tiêu cực đến các loài ốc bản địa và hệ sinh thái, nhưng người ta vẫn chưa biết nhiều về tác động sinh thái và tầm quan trọng của loài ốc này trong các hệ sinh thái bị xâm lấn.
Cạnh tranh: Sự hiện diện của ốc đá được phát hiện là nguyên nhân gây ra sự suy giảm đáng kể về sinh trưởng và số lượng của ốc bản địa có thể là do cạnh tranh thức ăn. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực như vậy vẫn chưa được xác nhận trong các nghiên cứu thực địa. không tìm thấy sự khác biệt nào về cấu trúc quần thể ốc liên quan đến sự hiện diện hoặc số lượng của ốc đá trên quy mô toàn bộ một hồ, mặc dù một số loài ốc bản địa có xu hướng không xuất hiện ở những nơi ốc đá có nhiều.

Tương tác với các loài xâm lấn khác: Người ta thấy rằng tác động kép của sự săn mồi của tôm càng xanh và sự cạnh tranh của ốc đá có tác động nghiêm trọng hơn đến các loài ốc bản địa so với từng loài xâm lấn riêng lẻ. Do kích thước lớn và lớp vỏ dày hơn, ốc đá ít bị tổn thương hơn trước sự săn mồi của loài tôm càng xanh này. Tác động kết hợp của cả hai loài xâm lấn được phát hiện là tiêu diệt một loài ốc bản địa và làm giảm số lượng của loài thứ hai tới hơn 95%.

Sự phiền toái của con người: Vỏ ốc có thể làm tắc nghẽn lưới chắn của các ống dẫn nước và do đó bám vào dòng chảy của nước. Ngoài ra, vỏ ốc chết và phân hủy có thể tạo thành những luống lớn trên bờ hồ, gây phiền toái cho cư dân ở một số vùng.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Shopping Cart